Giá cà phê tăng 200 đồng/kg, cao nhất 94.000 đồng/kg
Giá cà phê hôm nay tại các vùng trồng trọng điểm Tây Nguyên đồng loạt tăng 200 đồng/kg so với phiên trước, đưa mặt bằng thu mua lên 93.200–94.000 đồng/kg. Mức giá bình quân khoảng 93.900 đồng/kg, trong đó khu vực Đắk Nông thuộc Lâm Đồng mới tiếp tục ghi nhận mức cao nhất 94.000 đồng/kg. Diễn biến tăng 200 đồng/kg tại các địa phương cũng được ghi nhận trong cập nhật thị trường ngày 30/9. (Báo Văn Hóa)
Cụ thể, tại Đắk Lắk, giá cà phê được thu mua ở mức 93.800 đồng/kg; Gia Lai cũng ở mức 93.800 đồng/kg. Lâm Đồng có giá thấp hơn, ở mức 93.200 đồng/kg. Trong khi đó, Đắk Nông thuộc Lâm Đồng mới đạt 94.000 đồng/kg.
Đà tăng hiện nay diễn ra sau một tuần thị trường cà phê trong nước biến động khá mạnh. Trước đó, giá từng giảm xuống vùng 91.200–92.000 đồng/kg, mức thấp nhất trong gần ba tháng. Sau nhịp giảm này, giá cà phê đã phục hồi trở lại và đến ngày 30/9 đã lấy lại mốc 94.000 đồng/kg ở khu vực có giá cao nhất.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê cũng đồng loạt tăng. Tại sàn London, cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 45 USD/tấn, tương đương 1,45%, lên 3.412 USD/tấn. Hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2027 tăng 45 USD/tấn, tương đương 1,35%, đạt 3.387 USD/tấn.
Tại sàn New York, cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 10,5 US cent/pound, tương đương 3,64%, lên 288,75 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 tăng 9,65 US cent/pound, tương đương 3,56%, lên 280,9 US cent/pound. Mức giá của hợp đồng Arabica tháng 12/2026 cũng là mức cao nhất trong khoảng hai tuần.
Diễn biến trên cho thấy giá cà phê trong nước đang phục hồi cùng chiều với thị trường quốc tế. Tuy nhiên, giao dịch trong nước vẫn diễn ra trong bối cảnh thị trường chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch mới, do đó hoạt động mua bán Robusta vẫn tương đối thận trọng.
Giá hồ tiêu duy trì vùng 136.000–140.000 đồng/kg
Trái với diễn biến tăng của cà phê, giá hồ tiêu trong nước ngày 30/9 tiếp tục ổn định sau nhịp điều chỉnh khoảng 1.000 đồng/kg trong tuần trước. Giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động từ 136.000–140.000 đồng/kg.
Đắk Nông thuộc Lâm Đồng tiếp tục là khu vực có mức giá cao nhất, đạt 140.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ở mức 138.000 đồng/kg. Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc TP Hồ Chí Minh, giá tiêu được thu mua ở mức 136.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 136.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Như vậy, chênh lệch giữa mức giá cao nhất và thấp nhất trên thị trường hiện là 4.000 đồng/kg. Sau khi giảm khoảng 1.000 đồng/kg trong tuần trước, giá tiêu đã duy trì tương đối ổn định trong những phiên gần đây, trong đó mốc 140.000 đồng/kg tại khu vực có giá cao nhất vẫn được giữ vững.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại các nước sản xuất lớn cũng duy trì tương đối ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 6.828 USD/tấn; tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.850 USD/tấn và tiêu đen Malaysia đạt 9.250 USD/tấn.
Đối với hồ tiêu Việt Nam, tiêu đen loại 500 g/l được chào bán ở mức 5.970 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l đạt 6.075 USD/tấn. Ở phân khúc tiêu trắng, Muntok của Indonesia ở mức 9.348 USD/tấn, tiêu trắng Malaysia đạt 12.150 USD/tấn và tiêu trắng Việt Nam ở mức 8.450 USD/tấn.
So với đầu tuần trước, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn khoảng 55–100 USD/tấn, song mặt bằng giá đang có xu hướng ổn định trở lại trong những phiên gần đây.
Giá lúa gạo biến động nhẹ, CL 555 và IR 504 tăng 50 đồng/kg
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 30/9 tiếp tục diễn biến tương đối chậm. Nguồn lúa Hè Thu tại nhiều địa phương đang vãn dần, trong khi lúa Thu Đông bắt đầu được đưa ra thị trường, khiến nguồn cung từng bước được bổ sung. Trong bối cảnh đó, giá lúa nhìn chung ổn định, còn một số loại gạo nguyên liệu có điều chỉnh nhẹ.
Ở nhóm gạo nguyên liệu xuất khẩu, CL 555 tăng 50 đồng/kg, lên 8.750–8.850 đồng/kg. IR 504 cũng tăng 50 đồng/kg, lên 8.700–8.800 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu khác chưa ghi nhận thay đổi đáng kể. OM 5451 được giao dịch ở mức 9.300–9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700–8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200–9.400 đồng/kg. Gạo OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500–7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, mặt bằng giá dao động 7.500–9.000 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm ở mức 8.900–9.000 đồng/kg, còn cám ở mức 7.500–7.700 đồng/kg.
Ở thị trường bán lẻ, gạo Nàng Nhen có giá khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; thơm Thái hạt dài 20.000–22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg. Gạo Jasmine ở mức 17.000–18.000 đồng/kg, Đài thơm 15.500–16.000 đồng/kg, gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg và gạo thường 14.000–15.000 đồng/kg.
Một số loại khác gồm Sóc thường 15.000–16.000 đồng/kg, Sóc Thái 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM18 15.500–16.500 đồng/kg.
Đối với gạo nếp, nếp 3 tháng khô được giao dịch ở mức 9.600–9.700 đồng/kg; IR 4625 tươi và IR 5625 tươi cùng ở mức 7.300–7.500 đồng/kg.
Ở nhóm lúa tươi, OM18 và OM5451 cùng dao động 6.000–6.100 đồng/kg; IR50404 ở mức 5.900–6.000 đồng/kg; OM34 ở mức 5.700–5.900 đồng/kg. Đài Thơm 8 tiếp tục nằm trong nhóm có giá cao hơn, ở mức 6.100–6.200 đồng/kg.
Về nguồn cung, lúa Hè Thu đang bước vào giai đoạn cuối vụ tại nhiều khu vực. Tại Cà Mau, nguồn lúa Hè Thu gần như đã thu hoạch hết; trong khi đó, tại Cần Thơ, nguồn lúa mới tương đối ổn định. Hoạt động mua bán tại An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh và Vĩnh Long vẫn khá chậm, khiến giá lúa tại các địa phương này ít biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ở các mức hiện tại. Gạo Jasmine được chào bán ở mức 514–518 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm ở mức 420–424 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm ở mức 526–530 USD/tấn. Với các nguồn cung khác, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan ở mức 466–470 USD/tấn; Pakistan 422–426 USD/tấn; Ấn Độ 382–386 USD/tấn, trong khi gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ ở mức 378–382 USD/tấn.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
