Giá tiêu hôm nay ổn định, cao nhất 140.000 đồng/kg
Giá tiêu hôm nay 15/10 tại các vùng trồng trọng điểm không ghi nhận biến động mới so với ngày 14/10, sau khi tăng 500-1.000 đồng/kg tại nhiều địa phương trong phiên trước đó. Mặt bằng thu mua duy trì trong khoảng 137.500-140.000 đồng/kg.
Tại Đắk Nông thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá tiêu tiếp tục được thu mua ở mức 140.000 đồng/kg, cao nhất trong các khu vực khảo sát. Đắk Lắk duy trì mức 139.000 đồng/kg, đứng thứ hai về giá thu mua.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá tiêu ổn định ở mức 138.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Bình Phước thuộc tỉnh Đồng Nai cùng giao dịch ở mức 137.500 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm địa phương được khảo sát.
Như vậy, sau hai phiên tăng đầu tuần, thị trường hồ tiêu trong nước đang tạm thời chững lại. Trước khi đi ngang trong phiên 15/10, giá tiêu tại một số địa phương đã tăng tổng cộng 1.500-2.000 đồng/kg chỉ trong hai ngày.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại một số quốc gia cung ứng lớn ghi nhận điều chỉnh giảm.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia giảm 7 USD/tấn, tương đương khoảng 0,1%, xuống còn 6.827 USD/tấn. Giá tiêu đen Malaysia giảm mạnh hơn, mất 100 USD/tấn, tương đương khoảng 1,1%, xuống 9.100 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen ASTA 570 của Brazil tiếp tục duy trì mức 5.800 USD/tấn.
Đối với hồ tiêu Việt Nam, giá xuất khẩu tiêu đen loại 500 g/l giữ mức 5.950 USD/tấn, còn loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia ghi nhận mức giảm 10 USD/tấn, tương đương 0,11%, đưa giá tiêu trắng Muntok xuống 9.347 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt duy trì ở mức 8.450 USD/tấn và 12.100 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường hồ tiêu quốc tế đang xuất hiện những đợt điều chỉnh nhẹ tại một số quốc gia cung ứng lớn, trong khi giá xuất khẩu của Việt Nam tương đối ổn định. Chênh lệch giá giữa các thị trường tiếp tục là yếu tố đáng chú ý đối với hoạt động giao dịch và lựa chọn nguồn hàng của các nhà nhập khẩu.
Giá cà phê hôm nay giảm nhẹ, còn 92.300-93.000 đồng/kg
Giá cà phê hôm nay 15/10 tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt giảm 200 đồng/kg so với phiên trước, đưa mặt bằng thu mua xuống khoảng 92.300-93.000 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Lắk, giá cà phê giảm từ 93.200 đồng/kg xuống còn 93.000 đồng/kg. Đắk Nông thuộc tỉnh Lâm Đồng và Gia Lai cũng ghi nhận mức giảm tương tự, hiện được thu mua ở mức 93.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Lâm Đồng giảm từ 92.500 đồng/kg xuống còn 92.300 đồng/kg, tiếp tục là địa phương có giá thu mua thấp nhất trong nhóm được khảo sát.
Như vậy, giá cà phê trong nước quay đầu giảm sau một phiên tăng. Tuy nhiên, mức điều chỉnh chưa lớn và mặt bằng thu mua tại nhiều địa phương vẫn duy trì quanh ngưỡng 93.000 đồng/kg.
Diễn biến này cho thấy thị trường trong nước chưa hình thành xu hướng tăng ổn định, trong khi giá cà phê vẫn chịu tác động từ diễn biến trên các sàn kỳ hạn quốc tế.
Trên thị trường quốc tế, giá Robusta và Arabica ghi nhận diễn biến trái chiều trong phiên giao dịch được cập nhật ngày 15/10.
Tại sàn London, giá Robusta giao tháng 11/2026 giảm 19 USD/tấn, tương đương 0,55%, xuống còn 3.459 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 20 USD/tấn, tương đương 0,58%, còn 3.443 USD/tấn.
Ngược lại, trên sàn New York, giá Arabica giao tháng 3/2027 tăng 0,71%, lên mức 285,5 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 5/2027 tăng 0,7%, đạt 281,95 US cent/pound.
Diễn biến trái chiều giữa hai dòng cà phê cho thấy thị trường vẫn đang chịu tác động từ những yếu tố cung cầu khác nhau. Trong khi Robusta chịu áp lực điều chỉnh, Arabica tiếp tục được hỗ trợ bởi những lo ngại liên quan đến nguồn cung tại các quốc gia sản xuất lớn.
Theo Reuters, tốc độ xuất khẩu cà phê tương đối mạnh từ Brazil đang hạn chế khả năng tăng giá của thị trường quốc tế. Trong thời gian tới, nguồn cung từ vụ mới và diễn biến giao dịch trên các sàn kỳ hạn sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến giá cà phê trong nước.
Giá lúa gạo hôm nay: Gạo nguyên liệu và phụ phẩm tăng
Giá lúa gạo hôm nay 15/10 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận mức tăng nhẹ 50-100 đồng/kg ở một số mặt hàng gạo nguyên liệu và phụ phẩm. Trong khi đó, giá lúa tươi biến động không lớn và giá gạo xuất khẩu Việt Nam tiếp tục ổn định.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg, dao động 8.800-8.850 đồng/kg. Gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 ở mức 8.700-8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động 9.300-9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 tiếp tục dao động 9.200-9.400 đồng/kg, trong khi gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500-7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động khoảng 7.900-9.300 đồng/kg. Tấm thơm tăng 100 đồng/kg, lên 9.050-9.300 đồng/kg. Giá cám tăng 50 đồng/kg, dao động 7.900-8.200 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo thơm Jasmine tăng 500 đồng/kg, lên 17.000-18.000 đồng/kg. Các mặt hàng còn lại nhìn chung ổn định. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có giá niêm yết cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000-22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; gạo thường dao động 14.000-15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000-16.000 đồng/kg; gạo OM 18 ở mức 15.000-16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp tiếp tục ổn định. Giá nếp 3 tháng khô dao động 9.600-9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi và nếp IR 5625 tươi cùng ở mức 7.300-7.500 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 dao động 6.000-6.200 đồng/kg; lúa tươi DS1 ở mức 6.500-6.600 đồng/kg; lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng ở mức 6.200-6.300 đồng/kg. Lúa tươi OM 34 dao động 5.800-5.900 đồng/kg, trong khi OM 5451 ở mức 6.000-6.100 đồng/kg.
Tại các địa phương, giao dịch mua bán mới còn ít, giá lúa nhìn chung vững. Tại Cần Thơ, lượng hàng còn ít, nhiều diện tích đang chờ thu hoạch nên giá duy trì ổn định. Tại An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long và Cà Mau, hoạt động giao dịch còn yếu, giá lúa ít biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Theo số liệu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo trắng 5% tấm được chào bán ở mức 420-424 USD/tấn. Gạo Jasmine dao động 515-519 USD/tấn, trong khi gạo thơm 5% tấm duy trì trong khoảng 440-445 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm được giao dịch ở mức 455-459 USD/tấn. Giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan tiếp tục ổn định ở mức 409-413 USD/tấn.
Đối với Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm được chào bán trong khoảng 382-386 USD/tấn. Giá gạo đồ 5% tấm của nước này cũng không ghi nhận biến động, duy trì ở mức 381-385 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước đang có sự phân hóa nhẹ giữa các nhóm hàng: một số loại gạo nguyên liệu và phụ phẩm tăng giá, trong khi lúa tươi cùng phần lớn gạo bán lẻ vẫn ổn định. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam chưa có thay đổi đáng kể so với phiên trước.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
