Giá vàng hôm nay
Sáng 8/10, giá vàng miếng tại các thương hiệu lớn đồng loạt điều chỉnh giảm 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với sáng 7/10. Cụ thể, SJC, DOJI, PNJ và Bảo Tín Mạnh Hải cùng niêm yết vàng miếng ở mức 140 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra. Với mức giá này, chênh lệch giữa hai chiều mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
Tại Phú Quý, giá vàng miếng được niêm yết ở mức 139,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143 triệu đồng/lượng bán ra, cùng giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với sáng qua.
Đối với vàng nhẫn, diễn biến giữa các thương hiệu không đồng nhất. SJC niêm yết ở mức 139,5 - 142,5 triệu đồng/lượng, giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Vàng nhẫn tròn Bảo Tín Mạnh Hải mua vào ở mức 138,7 triệu đồng/lượng, tăng 600.000 đồng/lượng so với sáng 7/10.
Trong khi đó, vàng nhẫn DOJI giữ nguyên mức 139 - 143 triệu đồng/lượng. PNJ niêm yết ở mức 139,5 - 142,5 triệu đồng/lượng, giảm 600.000 đồng/lượng ở cả hai chiều. Vàng nhẫn Phú Quý cũng giảm 500.000 đồng/lượng, xuống 139,5 - 142,5 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng giao ngay giảm mạnh. Cuối giờ chiều 7/10 theo giờ Việt Nam, giá vàng trên Kitco ở mức 4.117,7 USD/ounce, giảm 34,76 USD/ounce so với đầu giờ sáng cùng ngày. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương khoảng 130,1 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 12,9 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Diễn biến giảm của vàng được đặt trong bối cảnh đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng, làm giảm sức hấp dẫn của kim loại quý. Thị trường cũng đang theo dõi sát những thay đổi trong kỳ vọng về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Thị trường hiện phần lớn kỳ vọng Fed giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp cuối tháng 10, trong khi công cụ FedWatch của CME vẫn cho thấy khả năng tăng lãi suất vào tháng 12 ở mức 85%.
Peter Grant, Phó chủ tịch kiêm chiến lược gia kim loại cấp cao tại Zaner Metals, cho rằng lãi suất có thể tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn, qua đó hỗ trợ lợi suất trái phiếu và đồng USD. Lãi suất cao hơn thường làm giảm sức hấp dẫn của vàng do kim loại quý không tạo ra dòng tiền.
Các quan chức Fed cũng tiếp tục đưa ra những tín hiệu cho thấy chính sách tiền tệ có thể phụ thuộc vào diễn biến lạm phát. Chủ tịch Fed Kansas City Jeff Schmid cho rằng việc kiềm chế lạm phát có thể đòi hỏi tăng lãi suất thêm, trong khi Chủ tịch Fed San Francisco Mary Daly cho biết lộ trình chính sách sẽ phụ thuộc vào việc áp lực lạm phát có tiếp tục hay không.
Ở chiều hỗ trợ, nhu cầu vàng từ các ngân hàng trung ương vẫn là yếu tố đáng chú ý. Theo World Gold Council, các ngân hàng trung ương trên thế giới mua ròng 39 tấn vàng trong tháng 8/2026, nâng tổng lượng mua ròng được báo cáo từ đầu năm lên 170 tấn. Trung Quốc tiếp tục duy trì hoạt động mua vàng, kéo dài chuỗi mua ròng lên tháng thứ 23 tính đến tháng 9.
Giá bạc dao động quanh 61 USD/ounce
Thị trường bạc cũng chịu tác động từ diễn biến của USD, lợi suất trái phiếu và kỳ vọng chính sách tiền tệ của Mỹ.
Tại Hà Nội, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý niêm yết giá bạc ở mức 2,106 triệu đồng/lượng mua vào và 2,171 triệu đồng/lượng bán ra. Tại một số địa điểm giao dịch khác ở Hà Nội, giá bạc ở mức 1,772 triệu đồng/lượng mua vào và 1,839 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại TP. Hồ Chí Minh, giá bạc được khảo sát ở mức 1,776 triệu đồng/lượng mua vào và 1,843 triệu đồng/lượng bán ra.
Trên thị trường quốc tế, giá bạc dao động quanh 61 USD/ounce. Một mức quy đổi khác được ghi nhận ở khoảng 1,555 triệu đồng/ounce mua vào và 1,560 triệu đồng/ounce bán ra.
Giá bạc được hỗ trợ phần nào khi đồng USD suy yếu và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm nhẹ. Tuy nhiên, lợi suất vẫn duy trì ở mức cao, qua đó làm tăng chi phí cơ hội đối với các tài sản không tạo ra dòng tiền như bạc và hạn chế dư địa tăng giá.
Thị trường hiện tiếp tục chờ các tín hiệu mới từ Fed. Những lo ngại về khả năng lạm phát kéo dài có thể khiến ngân hàng trung ương Mỹ duy trì cách tiếp cận thận trọng. Trong khi đó, một số dữ liệu gần đây về việc làm và lạm phát thấp hơn dự báo đã làm giảm phần nào khả năng Fed tăng lãi suất tại cuộc họp ngày 27-28/10.
Giá quặng sắt giảm nhẹ, thép xây dựng trong nước ổn định
Trên thị trường nguyên liệu thép, kết thúc phiên 6/10, giá quặng sắt kỳ hạn tháng 11 trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX) giảm 0,13 USD/tấn, tương đương 0,14%, xuống 91,65 USD/tấn.
Trong khi đó, giá quặng sắt giao ngay hàm lượng 62% của Australia giao tới Trung Quốc tăng 0,35 USD lên 92,95 USD/tấn. Đây là lần đầu giá quặng giao ngay phục hồi sau 7 phiên giảm liên tiếp. Mức giá này cũng cao hơn đáy 92,6 USD/tấn ghi nhận ngày 26/9, mức thấp nhất kể từ ngày 26/6/2025.
Thị trường Trung Quốc giao dịch trầm lắng trong kỳ nghỉ Quốc khánh từ ngày 1-7/10. Giá quặng giao ngay được hỗ trợ bởi chi phí vận tải biển neo cao, kỳ vọng nhu cầu cải thiện khi thị trường mở cửa trở lại và PMI sản xuất chính thức của Trung Quốc tăng lên 50,1 điểm.
Tuy nhiên, lượng quặng tồn kho tại các cảng tăng và triển vọng nguồn cung dư thừa tiếp tục tạo sức ép lên thị trường. Những yếu tố này khiến giá quặng sắt được dự báo khó bứt phá mạnh và có khả năng tiếp tục dao động trong biên độ hẹp trong ngắn hạn.
Tại Mỹ, giá thép cuộn cán nóng (HRC) tiếp tục tăng. Nucor nâng giá bán giao ngay (CSP) thêm 10 USD/tấn ngắn so với tuần trước, lên 1.230 USD/tấn ngắn. Giá CSP của California Steel Industries (CSI) cũng tăng 10 USD/tấn ngắn, lên 1.290 USD/tấn ngắn.
Thời gian giao hàng của Nucor vẫn ở mức 3-5 tuần. Từ mức 1.190 USD/tấn được công bố ngày 8/9, giá CSP của doanh nghiệp này đã liên tục tăng thêm 10 USD/tấn mỗi tuần.
Theo Kallanish, giá HRC tại Mỹ ngày 2/10 dao động 1.210-1.220 USD/tấn ngắn, cao hơn đáng kể so với mức 825-865 USD/tấn ngắn cùng kỳ năm 2025. Steel Market Update cũng ghi nhận giá thép lá và thép tấm dày tại Mỹ tiếp tục nhích lên vào cuối tháng 9, trong bối cảnh nguồn cung giao ngay hạn chế, nhu cầu ổn định và thời gian giao hàng kéo dài.
Tại Ấn Độ, nhu cầu thép được dự báo tăng 7-8% hoặc cao hơn trong những năm tới nhờ sức tiêu thụ trong nước. Theo ông T. V. Narendran, Giám đốc điều hành Tata Steel, nhu cầu từ ngành ô tô và xây dựng tiếp tục là những yếu tố hỗ trợ tiêu thụ thép, trong đó xây dựng được thúc đẩy bởi các dự án công nghiệp và hạ tầng.
Ở thị trường trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục duy trì ổn định. Hòa Phát niêm yết thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Việt Ý Miền Bắc có giá CB240 là 14.750 đồng/kg và CB300 là 13.940 đồng/kg.
Pomina và VJS Miền Bắc cùng niêm yết CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Thép Kyoei và VAS Miền Trung cùng có giá CB240 ở mức 15.050 đồng/kg.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
