Giá vàng miếng ổn định, vàng nhẫn đồng loạt giảm
Thị trường vàng trong nước sáng 7/10 ghi nhận giá vàng miếng tại SJC, PNJ, DOJI và Bảo Tín Mạnh Hải không thay đổi so với sáng hôm trước, cùng niêm yết ở mức 140,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Riêng vàng miếng Phú Quý SJC giảm 300.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, xuống 140 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giữ ở mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Đối với vàng nhẫn, giá giảm tại nhiều thương hiệu. SJC giữ nguyên mức 140–143 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Mạnh Hải giảm 200.000 đồng/lượng ở chiều mua vào, xuống 138,1 triệu đồng/lượng.
PNJ giảm 200.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống 140,1–143,1 triệu đồng/lượng. DOJI giảm 500.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, xuống 139–143 triệu đồng/lượng. Phú Quý SJC giảm 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, còn 140–143 triệu đồng/lượng.
Như vậy, mức bán ra cao nhất trên thị trường vàng miếng vẫn là 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn cao nhất ở mức 143,1 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay được ghi nhận quanh 4.167,5 USD/ounce, tương đương khoảng 131,9 triệu đồng/lượng quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, chưa tính thuế và phí. So với giá vàng trong nước, vàng thế giới thấp hơn khoảng 11,6 triệu đồng/lượng.
Theo dữ liệu khác trong phiên sáng, giá vàng thế giới trên Kitco có thời điểm ở mức 4.156,5 USD/ounce, tăng 10,4 USD/ounce so với phiên liền trước. Quy đổi theo tỷ giá Vietcombank 26.190 đồng/USD, mức giá này tương đương khoảng 131,1 triệu đồng/lượng, thấp hơn 12,5 triệu đồng/lượng so với giá vàng SJC bán ra.
Trong vòng 30 ngày, giá vàng thế giới giảm khoảng 263,6 USD/ounce, tương đương 5,95%.
Diễn biến trên thị trường vàng hiện chịu tác động từ nhiều yếu tố. Chỉ số USD tăng khiến vàng, vốn được định giá bằng đồng bạc xanh, trở nên đắt hơn đối với người nắm giữ các đồng tiền khác. Trong khi đó, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm vẫn ở mức cao, tiếp tục tạo sức ép lên kim loại quý.
Thị trường cũng đang chờ biên bản cuộc họp tháng 9 của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang Mỹ (FOMC), dự kiến công bố vào cuối tuần, để có thêm tín hiệu về định hướng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Áp lực đối với vàng gia tăng sau khi kim loại quý không giữ được mốc 4.200 USD/ounce, dù báo cáo việc làm tháng 9 của Mỹ cho thấy nền kinh tế chỉ tạo thêm 29.000 việc làm, thấp hơn nhiều so với dự báo. Tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 4,2%, trong khi tiền lương bình quân theo giờ tăng 0,1%.
Tại Hội nghị Kim loại quý toàn cầu thường niên của Hiệp hội Thị trường Vàng London (LBMA), các chuyên gia cho rằng mối quan hệ truyền thống giữa vàng và lợi suất trái phiếu đang chịu thách thức trong bối cảnh nợ chính phủ gia tăng, lạm phát dai dẳng và những lo ngại về sức mua dài hạn của tiền pháp định.
Vikram Dhawan, Trưởng bộ phận Hàng hóa kiêm Quản lý quỹ tại Nippon India Mutual Fund, cho rằng câu chuyện “phá giá tiền tệ” bắt nguồn từ gánh nặng nợ ngày càng khó bền vững của kinh tế toàn cầu. Theo ông, trong điều kiện bình thường, lợi suất trái phiếu tăng mạnh phải là yếu tố tiêu cực đối với vàng, nhưng mối quan hệ này đang có dấu hiệu suy yếu.
Shayne McGuire, Quản lý danh mục đầu tư tại Teacher Retirement System of Texas, cho rằng những thách thức trên thị trường trái phiếu có thể thúc đẩy vàng được đưa vào danh mục đầu tư của các tổ chức với tỷ trọng lớn hơn. Ông cũng cho rằng việc vàng hiện diện còn hạn chế trong danh mục của các tổ chức lại là một trong những yếu tố hỗ trợ triển vọng dài hạn của kim loại quý.
Giá bạc giảm nhẹ
Giá bạc trong nước sáng 7/10 được Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý niêm yết tại Hà Nội ở mức 2,151 triệu đồng/lượng mua vào và 2,218 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại các địa điểm giao dịch khác ở Hà Nội, giá bạc ở mức 1,815 triệu đồng/lượng mua vào và 1,883 triệu đồng/lượng bán ra. Tại TP. Hồ Chí Minh, giá bạc được niêm yết ở mức 1,819 triệu đồng/lượng mua vào và 1,887 triệu đồng/lượng bán ra.
Trên thị trường thế giới, giá bạc ở mức 60,65 USD/ounce, giảm 0,67 USD/ounce.
Diễn biến giá bạc chịu tác động từ những tín hiệu mới về kinh tế Mỹ. Theo Viện Quản lý Cung ứng Mỹ (ISM), khu vực dịch vụ của nền kinh tế lớn nhất thế giới tiếp tục mở rộng trong tháng 9 nhưng tốc độ tăng trưởng chậm lại và thấp hơn kỳ vọng.
Chỉ số PMI dịch vụ của Mỹ giảm từ 55,4 điểm xuống 54,9 điểm. Dù vẫn cao hơn ngưỡng 50 điểm, mức giảm cho thấy đà mở rộng của khu vực dịch vụ đã hạ nhiệt.
Thông tin này được phản ánh trên thị trường kim loại quý khi nhà đầu tư đánh giá lại triển vọng tăng trưởng của kinh tế Mỹ và tiếp tục theo dõi khả năng Fed điều chỉnh chính sách lãi suất trong thời gian tới.
Quặng sắt tăng nhẹ, thép xây dựng trong nước ổn định
Trên thị trường quặng sắt, kết thúc phiên giao dịch ngày 5/10, hợp đồng kỳ hạn tháng 11 trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX) tăng 0,45 USD, tương đương 0,49%, lên 91,8 USD/tấn.
Thị trường Trung Quốc tạm ngừng giao dịch trong kỳ nghỉ Quốc khánh từ ngày 1 đến 7/10. Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải dự kiến hoạt động trở lại từ ngày 8/10.
Các yếu tố nền tảng của thị trường quặng sắt vẫn chịu sức ép khi nhu cầu thép tại Trung Quốc suy yếu, làm gia tăng tồn kho và giảm nhu cầu bổ sung quặng từ nguồn vận chuyển bằng đường biển.
Trong tháng 8/2026, tổng lượng quặng sắt vận chuyển bằng đường biển toàn cầu đạt 153,5 triệu tấn, tương đương cùng kỳ năm trước nhưng tăng 5% so với tháng 7. Lượng quặng sắt cập cảng Trung Quốc giảm 7,7%, dù lượng hàng vận chuyển tới nước này tăng nhẹ 0,2%.
Về nguồn cung, Guinea xuất khẩu kỷ lục 3,1 triệu tấn quặng sắt trong tháng 8, trong khi xuất khẩu của Brazil giảm 11% do nhu cầu từ các nhà sản xuất thép châu Âu suy yếu. Australia ghi nhận xuất khẩu tăng 5% nhờ hoạt động bốc hàng thuận lợi và nhu cầu tương đối ổn định từ châu Á.
Triển vọng quý IV/2026 cũng chịu tác động từ cơ chế nhập khẩu thép mới của Liên minh châu Âu (EU), trong đó yêu cầu xác định nơi nấu luyện và đúc phôi nhằm tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và hạn chế việc né hạn ngạch thông qua gia công hoặc trung chuyển tại nước thứ ba.
Cùng với lượng tồn kho quặng sắt tại các cảng Trung Quốc ở mức cao, những yếu tố này có thể tạo thêm áp lực lên nhu cầu quặng trong quý IV. Trong khi đó, nguồn cung từ dự án Simandou tại Guinea được dự báo duy trì ở mức cao và có thể tăng thêm.
Tại Việt Nam, Formosa Hà Tĩnh (FHS) đã tăng giá thép cuộn cán nóng (HRC) bán trong nước khoảng 9 USD/tấn đối với các lô giao tháng 12 và tháng 1. Sau khi tính chiết khấu cho các lô từ 20.000 tấn trở lên, giá chào của Formosa tương đương 543 USD/tấn CIF miền Nam Việt Nam.
Trước đó, Hòa Phát đã tăng giá HRC bán trong nước giao tháng 11 khoảng 10 USD/tấn so với tháng trước. Theo BigMint, giá chào tăng trong bối cảnh chi phí sản xuất trong nước vẫn ở mức cao, trong đó giá than luyện cốc là một yếu tố quan trọng. Nhu cầu thép trong nước tăng cũng tạo thêm lực đỡ khi nguồn HRC chào bán từ Ấn Độ khan hiếm.
Trên thị trường HRC toàn cầu, tháng 9 ghi nhận diễn biến trái chiều. Giá tại Mỹ tăng nhờ nguồn cung giao ngay hạn chế và thời gian giao hàng kéo dài. Các nhà sản xuất châu Âu tìm cách nâng giá, trong khi thị trường Trung Quốc chưa cho thấy tín hiệu rõ ràng về phục hồi nhu cầu theo mùa.
Đối với thép xây dựng trong nước, các doanh nghiệp tiếp tục giữ giá ổn định. Hòa Phát niêm yết CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Thép Việt Ý miền Bắc có giá CB240 là 14.750 đồng/kg và CB300 là 13.940 đồng/kg.
Pomina và VJS miền Bắc cùng báo giá CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Thép Kyoei và VAS miền Trung cùng chào giá ở mức 15.050 đồng/kg.
Theo số liệu từ Cục hải quan, trong tháng 8/2026, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam đạt 1,2 triệu tấn, trị giá 879,5 triệu USD, tăng 3,78% về lượng và 3,47% về trị giá so với tháng 7. So với tháng 8/2025, lượng xuất khẩu tăng 73,49% và trị giá tăng 97,98%.
Giá thép xuất khẩu bình quân trong tháng 8 đạt 732 USD/tấn, giảm 0,3% so với tháng 7 nhưng tăng 14,12% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu gần 7,9 triệu tấn sắt thép, trị giá 5,43 tỷ USD, tăng 10,89% về lượng và 16,04% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 687 USD/tấn, tăng 4,64%.
ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất, với 2,31 triệu tấn, trị giá 1,45 tỷ USD, chiếm 29,19% tổng lượng xuất khẩu. Tiếp theo là EU với 1,36 triệu tấn, trị giá 902,53 triệu USD.
Hoa Kỳ đạt 1,1 triệu tấn, trị giá 700,3 triệu USD, tăng 68,84% về lượng và 67,85% về trị giá so với cùng kỳ. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Brazil đạt 682.320 tấn, trị giá 488,62 triệu USD, tăng lần lượt 363,82% và 534,09%, đưa thị trường này lên vị trí thứ tư trong các thị trường xuất khẩu sắt thép lớn của Việt Nam trong 8 tháng.
Bên cạnh các thị trường chủ lực, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam sang một số thị trường như Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Nga, Ai Cập, Kuwait và Pakistan cũng ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ, góp phần mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
