Giá vàng thế giới hồi phục, vàng miếng trong nước tăng nhẹ
Giá vàng thế giới sáng 30/9 bật tăng trở lại sau khi giảm mạnh trong phiên trước. Theo cập nhật sáng nay, giá vàng thế giới mở phiên ở mức 4.182 USD/ounce, tăng hơn 40 USD/ounce so với sáng 29/9.
Giá vàng giao ngay phục hồi sau đợt bán tháo mạnh trước đó, trong bối cảnh thị trường tiếp tục theo dõi diễn biến tại Trung Đông và chờ các dữ liệu kinh tế Mỹ để đánh giá triển vọng chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Dù phục hồi trong phiên mới, giá vàng vẫn chịu sức ép từ mặt bằng lợi suất trái phiếu Mỹ và kỳ vọng lãi suất duy trì ở mức cao. Theo thông tin thị trường, các nhà giao dịch đang định giá xác suất khoảng 70% Fed tiếp tục tăng lãi suất vào tháng 10. Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm ở quanh mức 5,25%, trong khi chỉ số USD duy trì gần mức cao nhất trong hai tháng.
Trong tháng 9, giá vàng đã giảm gần 7%, dù có thời điểm lập đỉnh 4.510 USD/ounce vào đầu tháng. Diễn biến giảm gia tăng sau khi Fed thực hiện đợt tăng lãi suất đầu tiên kể từ năm 2023 nhằm ứng phó với lạm phát dai dẳng và phát tín hiệu có thể tiếp tục nâng lãi suất.
Theo quy đổi theo tỷ giá Vietcombank, giá vàng thế giới tương đương khoảng 131,9 triệu đồng/lượng.
Ở thị trường trong nước, giá vàng miếng sáng 30/9 đồng loạt tăng 100.000 đồng/lượng ở cả hai chiều tại SJC, Bảo Tín Mạnh Hải, DOJI, PNJ và Phú Quý. Mặt bằng giá phổ biến được nâng lên 139,5 triệu đồng/lượng mua vào và 142,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại SJC, giá vàng miếng tăng 100.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, lên 139,5–142,5 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Mạnh Hải, DOJI, PNJ và Phú Quý cũng cùng niêm yết trong vùng giá này.
Trong khi đó, Mi Hồng có giá mua vào cao hơn phần lớn doanh nghiệp được khảo sát, ở mức 141 triệu đồng/lượng, còn giá bán ra là 142,5 triệu đồng/lượng. Cả hai chiều cùng tăng 100.000 đồng/lượng.
Đáng chú ý, Bảo Tín Minh Châu có diễn biến trái chiều. Giá mua vào giảm 900.000 đồng/lượng xuống 138,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra tăng 100.000 đồng/lượng lên 142,5 triệu đồng/lượng. Chênh lệch mua - bán tại doanh nghiệp này theo đó nới rộng lên 4 triệu đồng/lượng.
Ở phân khúc vàng nhẫn, giá cũng có sự phân hóa giữa các thương hiệu. Vàng nhẫn 9999 của SJC được niêm yết ở mức 139–142 triệu đồng/lượng, tăng 100.000 đồng/lượng ở cả hai chiều.
PNJ và Phú Quý cùng niêm yết vàng nhẫn ở mức 139,5–142,5 triệu đồng/lượng, tăng 100.000 đồng/lượng mỗi chiều. Nhẫn tròn Hưng Thịnh Vượng 9999 của DOJI ở mức 138,5–142,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn 9999 của Bảo Tín Minh Châu ở mức 136,5–142,5 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Mạnh Hải niêm yết vàng nhẫn 9999 mua vào ở mức 137,5 triệu đồng/lượng. Nhìn chung, giá mua vàng nhẫn dao động 136,5–139,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán phổ biến quanh 142–142,5 triệu đồng/lượng. Khoảng cách mua - bán tại các thương hiệu được khảo sát dao động khoảng 3–6 triệu đồng/lượng.
Về triển vọng, một số chuyên gia cho rằng kỳ vọng lãi suất và lợi suất trái phiếu tăng có thể khiến giá vàng lùi về vùng 4.000 USD/ounce trong ngắn hạn. Ở chiều khác, một số chuyên gia vẫn duy trì kỳ vọng giá vàng có thể hướng tới 5.000 USD/ounce trong vòng 6 tháng tới, dù thừa nhận con đường tăng giá có thể khó khăn hơn trong bối cảnh lợi suất thực ở mức cao.
Giá bạc tiếp tục chịu sức ép giảm
Thị trường bạc ngày 30/9 tiếp tục chịu áp lực giảm khi đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ duy trì ở mức cao.
Trên thị trường quốc tế, giá bạc được niêm yết quanh 60,57 USD/ounce, giảm 1,93 USD/ounce. Trong phiên giao dịch mới, giá bạc có thời điểm lùi về quanh 60,60 USD/ounce khi dòng tiền trên thị trường kim loại quý trở nên thận trọng hơn.
Đà giảm diễn ra sau giai đoạn giá bạc biến động mạnh. Thị trường hiện tập trung vào các tín hiệu từ kinh tế Mỹ cũng như triển vọng chính sách tiền tệ của Fed.
Đồng USD mạnh lên tiếp tục tạo sức ép đối với bạc. Do bạc được định giá bằng USD, đồng bạc xanh tăng giá khiến kim loại này trở nên đắt hơn đối với nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác, qua đó có thể ảnh hưởng đến nhu cầu trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ duy trì ở vùng cao cũng tạo sức ép lên dòng tiền vào kim loại quý. Khi lợi suất của các tài sản tài chính tăng, dòng tiền có thể ưu tiên những kênh có khả năng tạo thu nhập, trong khi bạc không mang lại dòng tiền định kỳ.
Tại thị trường trong nước, giá bạc Phú Quý tại Hà Nội được niêm yết ở mức 2,142 triệu đồng/lượng mua vào và 2,208 triệu đồng/lượng bán ra.
Tại các địa điểm giao dịch khác ở Hà Nội, giá bạc hiện ở mức 1,803 triệu đồng/lượng mua vào và 1,871 triệu đồng/lượng bán ra. Tại TP Hồ Chí Minh, giá bạc được niêm yết ở mức 1,807 triệu đồng/lượng mua vào và 1,875 triệu đồng/lượng bán ra.
Theo quy đổi được các nguồn cập nhật, giá bạc thế giới tương đương khoảng 1,581 triệu đồng/ounce ở chiều mua vào và 1,587 triệu đồng/ounce ở chiều bán ra.
Như vậy, cả thị trường quốc tế và trong nước đều đang ghi nhận sự thận trọng đối với bạc, trong bối cảnh diễn biến của USD, lợi suất trái phiếu và kỳ vọng chính sách tiền tệ Mỹ tiếp tục là những yếu tố được thị trường theo dõi.
Giá quặng sắt xuống đáy 5 tuần, thép xây dựng trong nước ổn định
Trên thị trường nguyên liệu thép, giá quặng sắt tiếp tục giảm trong phiên 28/9 và xuống mức thấp nhất trong 5 tuần. Nguyên nhân được các nguồn tin thị trường gắn với nguồn cung toàn cầu dồi dào, lượng quặng tồn kho tại các cảng Trung Quốc tăng và sản lượng của các nhà máy thép Trung Quốc chịu sức ép do lợi nhuận suy giảm.
Trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE), thép thanh kỳ hạn tháng 10/2026 giảm 12 nhân dân tệ, tương đương 0,39%, xuống 3.038 nhân dân tệ/tấn.
Tại Sàn Giao dịch Đại Liên (DCE), quặng sắt kỳ hạn tháng 10 giảm 6,5 nhân dân tệ, tương đương 0,91%, xuống 710,5 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Giao dịch Singapore (SGX), quặng sắt cùng kỳ hạn giảm 0,5 USD, tương đương 0,53%, xuống 94,6 USD/tấn.
Đối với hợp đồng quặng sắt giao tháng 1 được giao dịch nhiều nhất trên DCE, giá giảm 0,91% xuống 705 nhân dân tệ/tấn, tương đương 105,01 USD/tấn. Trong phiên, giá có thời điểm chạm 700 nhân dân tệ/tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 20/8.
Theo Steelhome, lượng quặng sắt tồn kho tại các cảng lớn của Trung Quốc trong tuần qua tăng 0,76% so với tuần trước, lên 152,17 triệu tấn. Trong khi đó, tỷ lệ nhà máy thép có lãi giảm 0,86 điểm phần trăm xuống 6,93%. Sản lượng gang bình quân ngày của 247 nhà máy giảm 19.700 tấn, xuống 2,36 triệu tấn, theo Mysteel.
Ở chiều nguồn cung, các nhà phân tích tại Hualian Futures cho rằng sản lượng gang nóng có thể tiếp tục giảm khi lợi nhuận của các nhà máy suy yếu và các chương trình kiểm soát sản lượng làm gia tăng kỳ vọng nguồn cung thép thu hẹp.
Tuy nhiên, nguồn cung từ bên ngoài Trung Quốc đã phục hồi lên mức cao so với cùng thời điểm nhiều năm, trong khi lượng quặng cập cảng trong nước cũng dần hồi phục. Những yếu tố này góp phần làm giảm bớt tình trạng gián đoạn nguồn cung.
Theo Galaxy Futures, nguồn cung quặng sắt toàn cầu dồi dào và lượng tồn kho tại các cảng Trung Quốc được dự báo vẫn ở mức cao, qua đó tạo sức ép lên giá trong thời gian tới.
Các nguyên liệu sản xuất thép khác trên Sàn DCE cũng giảm. Than luyện cốc giảm 2,44%, trong khi than cốc giảm 0,54%. Tại Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải, các sản phẩm thép diễn biến trái chiều: thép thanh giảm 0,16%, thép cuộn cán nóng giảm 0,33%, trong khi thép không gỉ tăng 0,47%.
Trên thị trường giao ngay, theo Shanghai Metals Market (SMM), giao dịch ngày 28/9 khá trầm lắng. Các thương nhân thận trọng khi chào bán, trong khi các nhà máy thép chủ yếu mua đủ cho nhu cầu trước mắt. Giá quặng sắt tại cảng Thanh Đảo giảm 6–10 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước.
Về nguồn cung, lượng quặng sắt cập cảng Trung Quốc đạt 29,46 triệu tấn, giảm 6% so với tuần trước nhưng tăng 4,9% tính từ đầu năm. Lượng quặng sắt xuất khẩu toàn cầu đạt 35,51 triệu tấn, tăng 3% so với tuần trước và tương đương mức lũy kế cùng kỳ.
Ở phía cầu, tình trạng thua lỗ của các nhà máy thép chưa được cải thiện đáng kể. Phần lớn nhà máy duy trì sản lượng quanh mức hiện tại, trong khi một số đơn vị trì hoãn kế hoạch bảo dưỡng sang sau kỳ nghỉ lễ do nguồn cung than cốc hạn chế. Theo SMM, nhu cầu bổ sung tồn kho về cơ bản đã qua, làm suy yếu lực hỗ trợ đối với giá quặng sắt trong ngắn hạn.
Tại thị trường trong nước, giá thép xây dựng tiếp tục được các doanh nghiệp giữ ổn định. Hòa Phát báo giá thép CB240 ở mức 14.920 đồng/kg và D10 CB300 ở mức 14.210 đồng/kg. Thép Việt Ý Miền Bắc có giá CB240 là 14.750 đồng/kg và CB300 là 13.940 đồng/kg.
Pomina và VJS Miền Bắc cùng báo giá thép CB240 ở mức 14.850 đồng/kg. Trong khi đó, thép Kyoei và VAS Miền Trung cùng chào giá 15.050 đồng/kg.
PV
Nguồn: thuongtruong.com.vn
